Tên miền vip xem camera trực tuyến

Giá bán: 280.000 vnđ

Tiết kiệm: -280.000 vnđ

Giá niêm yết: Liên hệ

- Phí duy trì host 1 năm 

- Độ ổn định lên tới 90%

- Hỗ trợ xem điện thoại máy tính latop..

- Dòng camera HD nên dùng tên miền riêng

- Tên miền với tài khoản vip không hack



CAM KẾT: Tất cả các sản phẩm hàng hóa được bày bán đều được đảm bảo đã tính 10% VAT đầy đủ

TRẢ TIỀN KHI

NHẬN HÀNG

MIỄN PHÍ

VẬN CHUYỂN

ĐẢM BẢO HÀNG HÓA

ĐỔI TRẢ, HOÀN TIỀN VỚI SẢN PHẨM LỖI


Mô tả sản phẩm Thông số kỹ thuật

DNS(Domain Name System), DDNS (DynDNS) và ứng dụng trong hệ thống camera giám sát từ xa

Máy chủ phân giải tên miền DNS (Domain Name System) là gì? Mỗi máy tính, thiết bị mạng tham gia vào mạng Internet đều “nói chuyện” với nhau bằng địa chỉ IP (Internet Protocol). Mỗi máy tính trên Internet được đánh dấu bằng một địa chỉ IP, là một mớ số. Tuy nhiên, không thể bắt người dùng nhớ cái mớ số đó, nhất là trong tương lai địa chỉ IP sẽ dài gấp bốn lần địa chỉ IP hiện nay (IPV6, 128 bits).

Để thuận tiện trong việc "giao tiếp" thì DNS chính là là giải pháp. Thay vì bắt con người nhớ số, mỗi số IP sẽ được đổi thành chữ và DNS có nhiệm vụ đổi chữ thành số tương ứng khi có yêu cầu. Hệ thống tên miền DNS (Domain Name System) được sử dụng để ánh xạ tên miền thành địa chỉ IP. Vì vậy, khi muốn liên hệ tới các máy, chúng chỉ cần sử dụng chuỗi ký tự dễ nhớ (domain name) như: www.microsoft, www.ibm…, thay vì sử dụng địa chỉ IP là một dãy số dài khó nhớ.
Địa chỉ của DNS thường được cung cấp tự động trực tiếp mỗi khi bạn thiết lập kết nối với ISP (nhà cung cấp dịch vụ Internet). Ở VN, mỗi ISP thường có hai hoặc nhiều DNS để phục vụ số lượng khách hàng của mình.
Thế nhưng thường cũng không đủ dùng. Vì vậy không ai cấm việc xài dịch vụ của ISP này nhưng thiết lập DNS của ISP khác, hoặc một DNS nào đó tốt hơn trong các giờ cao điểm.

Thao tác thay DNS cũng rất dễ dàng. Bạn mở cửa sổ Properties để vào Internet Protocol (TCP/IP) Properties. Nếu bạn dùng mặc định DNS do ISP cung cấp thì chọn “Obtain DNS server address automatically”.
Nếu muốn dùng DNS theo ý mình thì chọn dòng “Use the following DNS server addresses”, sau đó điền địa chỉ IP của DNS vào hai dòng bên dưới. Preferrer DNS server là địa chỉ được trình duyệt tìm đến đầu tiên. Alternate DNS server dành cho server dự phòng, trong trường hợp server đầu tiên quá bận. chính là tên của kết nối Internet của bạn.
Máy chủ phân giải tên miền (DNS Server) là những máy chủ được cài đặt, và cung cấp dịch vụ phân giải tên miền DNS. Máy chủ DNS được phân ra thành 2 loại như sau :

- Primary DNS Server (PDS)
Primary DNS Server (PDS) là nguồn xác thực thông tin chính thức cho các tên miền mà nó được phép quản lý. Thông tin về một tên miền do PDS được phân cấp quản lý thì được lưu trữ tại đây và sau đó có thể được chuyển sang các Secondary DNS Server (SDS).
Các tên miền do PDS quản lý thì được tạo, và sửa đổi tại PDS và sau đó được cập nhật đến các SDS .

- Secondary DNS Server (SDS)
DNS được khuyến nghị nên sử dụng ít nhất là hai DNS server để lưu địa chỉ cho mỗi một vùng (zone). PDS quản lý các vùng và SDS được sử dụng để lưu trữ dự phòng cho vùng, và cho cả PDS. SDS không nhất thiết phải có nhưng khuyến khích hãy sử dụng . SDS được phép quản lý tên miền nhưng dữ liệu về tên miền không phải được tạo ra từ SDS mà được lấy về từ PDS.
SDS có thể cung cấp các hoạt động ở chế độ không tải trên mạng. Khi lượng truy vấn vùng (zone) tăng cao, PDS sẽ chuyển bớt tải sang SDS (quá trình này còn được gọi là cân bằng tải), hoặc khi PDS bị sự cố thì SDS hoạt động thay thế cho đến khi PDS hoạt động trở lại .
SDS thường được sử dụng tại nơi gần với các máy trạm (client) để có thể phục vụ cho các truy vấn một cách dễ dàng. Tuy nhiên, cài đặt SDS trên cùng một subnet hoặc cùng một kết nối với PDS là không nên. Điều đó sẽ là một giải pháp tốt để dự phòng cho PDS, vì khi kết nối đến PDS bị hỏng thì cũng không ảnh hưởng gì tới đến SDS.
Ngoài ra, PDS luôn duy trì một lượng lớn dữ liệu và thường xuyên thay đổi hoặc thêm các địa chỉ  

- mới vào các vùng. Do đó, DNS server sử dụng một cơ chế cho phép chuyển các thông tin từ PDS sang SDS và lưu giữ trên đĩa. Khi cần phục hồi dữ liệuvề các vùng, chúng ta có thể sử dụng giải pháp lấy toàn bộ ( full ) hoặc chỉ lấy phần thay đổi (incrememtal).

DNS làm việc như thế nào?
DNS (Domain Name System) là một hệ cơ sở dữ liệu phân tán dùng để ánh xạ giữa các tên miền và các địa chỉ IP. DNS đưa ra một phương pháp đặc biệt để duy trì và liên kết các ánh xạ này trong một thể thống nhất.
Trong phạm vi lớn hơn, các máy tính kết nối với internet sử dụng DNS để tạo địa chỉ liên kết dạng URL (Universal Resource Locators). Theo phương pháp này, mỗi máy tính sẽ không cần sử dụng địa chỉ IP cho kết nối mà chỉ cần sử dụng tên miền (domain name) để truy vấn đến kết nối đó. Với mô hình phân cấp như hình dưới đây :

Mô hình phân cấp tên miền 
Để hiểu rõ hơn về hoạt động của DNS chúng ta xét ví dụ và tham khảo hình vẽ dưới đây:

 

Ví dụ hoạt động của DNS: Mô hình phân cấp tên miền

Giả sử PC A muốn truy cập đến trang web www.yahoo. và server vnn chưa lưu thông tin về trang web này, các bước truy vấn sẽ diễn ra như sau:

 

  • Đầu tiên PC A gửi một request hỏi server quản lý tên miền vnn hỏi thông tin về www.yahoo. Server quản lý tên miền vnn gửi một truy vấn đến server top level domain.
  • Top level domain lưu trữ thông tin về mọi tên miền trên mạng. Do đó nó sẽ gửi lại cho server quản lý tên miền vnn địa chỉ IP của server quản lý miền com (gọi tắt server com).
  • Khi có địa chỉ IP của server quản lý tên miền com thì lập tức server vnn hỏi server com thông tin về yahoo.. Server com quản lý toàn bộ những trang web có domain là com, chúng gửi thông tin về địa chỉ IP của server yahoo.com cho server vnn.
  • Lúc này server vnn đã có địa chỉ IP của yahoo.com rồi. Nhưng PC A yêu cầu dịch vụ www chứ không phải là dịch vụ ftp hay một dịch vụ nào khác. Do đó server vnn tiếp tục truy vấn tới server yahoo.com để yêu cầu thông tin về server quản lý dịch vụ www của yahoo.c.
  • Lẽ đương nhiên khi nhận được truy vấn thì server yahoo.c gửi lại cho server vnn địa chỉ IP của server quản lý www.yahoo.c.

Cuối cùng là server vnn gửi lại địa chỉ IP của server quản lý www.yahoo.c. cho PC A và PC A kết nối trực tiếp đến nó. Và bây giờ thì server vnn đã có thông tin về www.yahoo.c cho những lần truy vấn đến sau của các client khác

Kiến thức cơ bản về hệ thống dịch vụ 
Liên quan đến cung cấp dịch vụ kết nối Internet mà ISP cung cấp cho khách hàng, có nhiều dạng dịch vụ:

Dịch vụ kết nối Internet trực tiếp (ví dụ leased-line): Đối với những tổ chức có nhu cầu kết nối Internet tốc độ cao, ổn định có thể thuê dịch vụ kết nối trực tiếp. Mạng của tổ chức sử dụng đường leased-line sẽ luôn luôn kết nối với Internet thông qua đường truyền dẫn riêng. 
Thường các tổ chức này sẽ được ISP cấp cho một vùng địa chỉ IP tĩnh. Với vùng địa chỉ IP này, tổ chức có thể gắn địa chỉ tĩnh cho các máy chủ và tự duy trì các máy chủ dịch vụ như ftp, mail, web, dns… vì mạng của tổ chức có kết nối liên tục với Internet với tốc độ kết nối cao và ổn định. Nếu không tự duy trì máy chủ, các tổ chức này cũng có thể thuê dịch vụ chạy trên máy chủ của các ISP.

Dịch vụ kết nối Internet gián tiếp: Điển hình như dịch vụ kết nối Internet thông qua dialup. Với dạng thức dịch vụ này, người sử dụng kết nối Internet sử dụng đường dây điện thoại và không thường xuyên kết nối tới Internet, người sử dụng sẽ ngắt kết nối khi không còn nhu cầu. Dạng thức kết nối này có tốc độ truyền chậm, không được cấp địa chỉ IP tĩnh, thuê bao chỉ sử dụng để truy cập Internet mà không duy trì được máy chủ cung cấp dịch vụ vốn là những host đòi hỏi tính liên tục trong kết nối. Để sử dụng được những dịch vụ như email hay web (với tên miền riêng), … người sử dụng phải đăng ký dịch vụ tại ISP (web hosting, mail hosting…), tức là thuê dịch vụ trên máy chủ của ISP.

Dịch vụ kết nối Internet tốc độ cao (ADSL): Đây là dạng thức kết nối Internet sử dụng đường dây điện thoại nhưng có tốc độ kết nối Internet cao và là kết nối liên tục, tức mạng của tổ chức được luôn luôn kết nối tới Internet (always-on) . Nếu thuê bao ADSL được ISP cấp địa chỉ tĩnh thì hoàn toàn có thể sử dụng kết nối liên tục này để tự duy trì các máy chủ dịch vụ như ftp, mail, web, dns… tương tự như sử dụng kết nối leased-line. Tuy nhiên hiện nay, để tiết kiệm không gian địa chỉ IP, không chỉ với dạng kết nối dialup mà với cả dịch vụ ADSL, các nhà cung cấp cũng sử dụng phương thức cấp địa chỉ động. Điều này khiến cho những khách hàng sử dụng dịch vụ tốc độ cao ADSL hiện nay chỉ có thể cải thiện tốc độ truy cập Internet chứ vẫn chưa thể tự mình duy trì máy chủ dịch vụ như mail, ftp, web như những đối tượng thuê kết nối trực tiếp leased-line.

Cấp phát địa chỉ động (dynamic IP)
Thông thường, khi một thuê bao kết nối vào Internet, nhà cung cấp dịch vụ (ISP) mà thuê bao này đăng ký sử dụng dịch vụ Internet sẽ cấp cho kết nối này (thực tế là máy chủ làm nhiệm vụ phân bổ địa chỉ động ví dụ DHCP server trong dialup hay BRAS trong dịch vụ ADSL của nhà cung cấp dịch vụ) sẽ tự động gắn cho kết nối của thuê bao một địa chỉ chưa có ai sử dụng trong một khối địa chỉ dùng chung mà ISP dành cho các thuê bao kết nối gián tiếp (kết nối động) gọi là vùng pool. 

Địa chỉ đã được cấp này chỉ được sử dụng trong khoảng thời gian thuê bao này kết nối Internet, khi thuê bao ngắt kết nối, địa chỉ này được giải phóng để cho thuê bao khác sử dụng và thuê bao sẽ được cấp một địa chỉ khác trong lần kết nối mới.

Hệ thống tên miền tĩnh (Static DNS) truyền thống.
Mọi máy tính, thiết bị mạng (host) trên mạng Internet liên hệ với nhau bằng địa chỉ IP. Để thuận tiện cho việc sử dụng thì người ta dùng tên (tên miền) để xác định host đó, Hệ thống máy chủ tên miền được sử dụng để ánh xạ tên miền thành địa chỉ IP, nhờ đó khi muốn liên hệ tới các host, người ta dùng sử dụng chuỗi ký tự dễ nhớ (tên miền), thay vì sử dụng địa chỉ IP là một dãy số dài khó nhớ.

Khi người dùng có yêu cầu khai báo ánh xạ tên miền vào một địa chỉ IP thì có thể có 2 lựa chọn sau:
- Yêu cầu người quản trị hệ thống máy chủ quản lý tên miền đó khai báo vào CSDL tên miền
- Thông qua các giao diện cung cấp cho người dùng tự cập nhật
Tuy nhiên với những cách ở trên thì phải thực hiện bằng yếu tố nhân công, do đó không phản ánh tức thời được. 

Tuy nhiên nó rất phù hợp với những hệ thống mà địa chỉ IP ít thay đổi (hệ thống leased-line)
Với dịch vụ được cung cấp địa chỉ IP động (dial-up, ADSL), mỗi lần kết nối đều được cấp một địa chỉ IP khác, không biết trước là địa chỉ nào do đó việc ánh xạ tên miền và IP động đó là rất khó khăn, không thể thực hiện nhân công.
Sử dụng dịch vụ static DNS, thuê bao của những dạng dịch vụ kết nối được ISP cung cấp địa chỉ động như dialup hoặc ADSL không thể tự mình duy trì được máy chủ cung cấp dịch vụ. Ví dụ tổ chức thuê đường truyền ADSL tốc độ cao tuy cải thiện được tốc độ truy cập Internet. Nhưng nếu tổ chức đó muốn thiết lập một website có tên miền đã được đăng ký gắn liền với tên giao dịch của tổ chức itexpert.org và sử dụng email với tên miền đã đăng ký info@itexpert.or, tổ chức đó phải thuê dịch vụ mail hosting và web hosting của ISP (tức cài đặt những dịch vụ này trên máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ) vì máy chủ của ISP có kết nối Internet trực tiếp và địa chỉ IP tĩnh.
Do vậy, Dynamic DNS được phát triển để cung cấp dịch vụ tên miền cho những đối tượng kết nối Internet với địa chỉ IP động, có địa chỉ IP của host thay đổi với tần xuất cao vẫn có thể tự mình duy trì máy chủ cung cấp dịch vụ.

Hệ thống tên miền động (Dynamic DNS).
Nói một cách ngắn gọn, Dynamic DNS là phương thức ánh xạ tên miền tới địa chỉ IP có tần xuất thay đổi cao (do không phải mọi máy tính đều sử dụng địa chỉ IP tĩnh). Dịch vụ DNS động (Dynamic DNS) cung cấp một chương trình đặc biệt chạy trên máy tính của người sử dụng dịch vụ dynamic DNS gọi là Dynamic Dns Client. Chương trình này giám sát sự thay đổi địa chỉ IP tại host và liên hệ với hệ thống DNS mỗi khi địa chỉ IP của host (vốn được cung cấp bởi ISP bằng phương pháp động) thay đổi và sau đó update thông tin vào cơ sở dữ liệu DNS về sự thay đổi địa chỉ đó. Bằng cách này, cho dù máy chủ có thường xuyên bị thay đổi địa chỉ thì tên miền vẫn được hệ thống máy chủ DNS trỏ về đúng địa chỉ được cấp IP mới đó.

Vậy những ai cần đến dynamic DNS:
Như đã đề cập ở trên, những đối tượng không sử dụng dịch vụ kết nối Internet trực tiếp leased-line với địa chỉ IP tĩnh mà thuê kết nối Internet gián tiếp dialup hoặc dịch vụ ADSL có địa chỉ IP động, nếu đăng ký sử dụng Dynamic DNS hoàn toàn có thể tự duy trì máy chủ dịch vụ của mình.
Đặc biệt, các thuê bao ADSL với số lượng ngày càng tăng nhanh sẽ rất hưởng ứng dịch vụ dynamic DNS bởi vì với dynamic DNS, thuê bao ADSL (thường là các tổ chức) có khả năng tự duy trì máy chủ dịch vụ (mail, web, ftp…server), không phải thuê dịch vụ mail hosting, web hosting của ISP vốn rất tốn kém. Việc tự duy trì máy chủ trước đây vốn chỉ có thể đối với các tổ chức có kết nối trực tiếp leased-line vốn là một dạng dịch vụ kết nối giá thành cao.

Để sử dụng dịch vụ dynamic DNS khách hàng phải làm gì:
Để sử dụng dịch vụ Dynamic DNS khách hàng ADSL chỉ cần đăng ký sử dụng dịch vụ với VNNIC, VNNIC sẽ cấp tên miền, account để xác thực. Sau đó khách hàng download chương trình VNNIC Dynamic DNS Client về cài vào máy và thiết lập các thông số (tên miền, tên máy chủ, account). Chương trình này sẽ theo dõi và cập nhật vào hệ thống DNS của VNNIC khi có sự thay đổi IP của kết nối ADSL đó, đảm bảo tên miền của khách hàng luôn được trỏ đúng.
Địa chỉ đăng ký sử dụng: http://dyndns.vnnic.

Bên cạnh đó 1 địa chỉ rất thông dụng để đăng ký dịch vụ Dynamic DNS miễn phí là http://www.dyndns.c, tất nhiên nếu trả tiền khách sẽ được hưởng những dịch vụ ở cấp cao hơn và được hỗ trợ tốt hơn.

 

Trong kho: còn hàng

KDBL Mr.Huy

KDBL Mr.Huy

DĐ: 0933.696.888

Tư vấn giải pháp

Tư vấn giải pháp

DĐ: 0938.173.999

Hỗ trợ kỹ thuật

Hỗ trợ kỹ thuật

DĐ: 0936.869.555

KDPP Mrs Hậu

KDPP Mrs Hậu

DĐ: 0968.231.555

Bên trái 1 Bên trái 2 ngân hàng kingmax fnkvision tplinkvn topt2 hikvision dahua tako tenda lblink adata micorlab genius kbvision eblue kingston

THỐNG KÊ TRUY CẬP